Các ý tưởng nghiên cứu khoa học

Các ý tưởng nghiên cứu khoa học

8. Nghiên cứu đề xuất giải pháp tưới nước hợp lí cho sự sinh trưởng tốt nhất ở một số loài cây trồng.

7. So sánh số lượng diệp lục ở cây cùng loài ở ngoài sáng và trong bóng.

6. The pace of life syndrome (POLS) hypothesis relates to animal personality, and suggests variation in an individual animal's life-history strategies in associated with consistent differences in its behaviour.

The variables they quantified were the time it took for the bird to emerge from its cage into the room once the door was raised (emergence), the number of different areas the bird perched in the 5 minutes after entering the room (exloration), the total number of areas the bird perched in the 2 minutes starting from 6 minutes after entering the room and becoming familiar with it (activitiy), and how they responded to a mirror (mirror responsiveness). To test mirror responsiveness, after the bird had been in the room for 8 minutes a mirror was revealed that could only be seen to birds on the upper perches. The researchers scored their response to the mirror on a scale of 1 to 3, where 1 was swooping at the mirror, 2 was perching in front of the mirror, and 3 was pecking at the mirror. Based on their recapture rates, the same individuals were retested in this way up to five times.
The results, wich included uncertainties, found the behaviour of individual fairy wrens was consistent over several years and that risky individuals, like those with greater exploratory behaviour, were less likely to be in the population 12 months later. These results support the POLS hypothesis that consistent individual differences in risk-related behaviours are associated with variation in survival.

The variables they quantified were the time it took for the bird to emerge from its cage into the room once the door was raised (emergence), the number of different areas the bird perched in the 5 minutes after entering the room (exloration), the total number of areas the bird perched in the 2 minutes starting from 6 minutes after entering the room and becoming familiar with it (activitiy), and how they responded to a mirror (mirror responsiveness). To test mirror responsiveness, after the bird had been in the room for 8 minutes a mirror was revealed that could only be seen to birds on the upper perches. The researchers scored their response to the mirror on a scale of 1 to 3, where 1 was swooping at the mirror, 2 was perching in front of the mirror, and 3 was pecking at the mirror. Based on their recapture rates, the same individuals were retested in this way up to five times.The results, wich included uncertainties, found the behaviour of individual fairy wrens was consistent over several years and that risky individuals, like those with greater exploratory behaviour, were less likely to be in the population 12 months later. These results support the POLS hypothesis that consistent individual differences in risk-related behaviours are associated with variation in survival.


Giả thuyết về tốc độ của hội chứng cuộc sống (POLS) liên quan đến tính cách của động vật và gợi ý sự thay đổi trong chiến lược lịch sử cuộc sống của một loài động vật liên quan đến sự khác biệt nhất quán trong hành vi của nó. 

 Các biến số mà họ định lượng là thời gian để con chim xuất hiện từ chuồng của nó vào phòng sau khi cánh cửa được nâng lên (số lần xuất hiện), số lượng các khu vực khác nhau mà con chim đậu trong 5 phút sau khi vào phòng tổng số khu vực con chim đậu trong 2 phút bắt đầu từ 6 phút sau khi vào phòng và làm quen với nó (activitiy), và cách chúng phản ứng với gương (phản ứng gương). Để kiểm tra độ phản ứng của gương, sau khi con chim đã ở trong phòng được 8 phút, một chiếc gương được tiết lộ chỉ có thể nhìn thấy những con chim trên những con cá rô trên. Các nhà nghiên cứu đã cho điểm phản ứng của họ với chiếc gương theo thang điểm từ 1 đến 3, trong đó 1 người đang sà vào gương, 2 người đang ngồi trước gương và 3 người đang nhìn vào gương. Dựa trên tỷ lệ thu hồi của họ, các cá nhân tương tự đã được kiểm tra lại theo cách này tới năm lần.

Kết quả, bao gồm những điều không chắc chắn, đã tìm thấy hành vi của các con chim riêng lẻ trong nhiều năm và những cá thể có nguy cơ, giống như những người có hành vi khám phá lớn hơn, ít có khả năng ở trong quần thể12 tháng sau đó. Những kết quả này ủng hộ giả thuyết POLS rằng sự khác biệt cá nhân nhất quán trong các hành vi rủi ro có liên quan đến sự thay đổi trong sự sống còn.

5.  Nghiên cứu các quy luật di tryền chi phối các tính trạng ở cây ngô.  

4. Khảo sát mối tương quan giữa chất lượng không khí và khả năng sinh trưởng của địa y (lichen).

3. Nguyễn Thu Yến, 2018. Ảnh hưởng của thức ăn béo tới kích thước và cân nặng của một số mô mỡ và mô miễn dịch ở chuột Swiss. Giải ba cấp cụm Nam Từ Liêm.

2. Nguyễn Đức Minh, Cao Quý Bảo Trân, 2017. Ảnh hưởng của dịch chiết lá chè xanh tới kích thước và cân nặng của một số mô mỡ ở chuột Swiss và ứng dụng để điều chỉnh hiện trạng béo phì ở người. Giải nhất cấp trường, giải nhất cấp QG cuộc thi School labs, HCV cuộc thi GNHD.

1. Nguyễn Đức Huy, Trần Quang Hoàng Lân, 2016. Tách chiết ADN ở một số mẫu động - thực vật. Giải nhất cấp trường. Giải nhì cấp liên trường. Giải nhì cấp cụm.